Trung tâm Giống Nông lâm nghiệp đoàn kết tạo sức mạnh thành công 

CÔNG NGHỆ SINH HỌC VỚI NÔNG NGHIỆP BÌNH PHƯỚC

Thứ sáu - 24/10/2014 15:30
Hiện nay công nghệ sinh học là ngành khoa học đang được cả thế giới quan tâm do có tốc độ phát triển nhanh chóng và đang tạo ra một cuộc cách mạng sinh học nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, y-dược, bảo vệ môi trường, vật liệu, năng lượng….Ở Việt Nam công nghệ sinh học trong nông nghiệp là lĩnh vực được chú trọng nghiên cứu và ứng dụng đồng thời cũng là lĩnh vực mang lại nhiều thành quả nhất. Để đáp ứng với xu thế phát triển của nền nông nghiệp thế giới nói chung, nông nghiệp nước nhà nói riêng thì nền nông nghiệp Bình Phước cần phải có hướng nghiên cứu ứng dụng phát triển công nghệ sinh học lâu dài và bền vững.
1. Công nghệ sinh học
Khái niệm công nghệ sinh học ( Biotechnology) xuất hiện từ năm 1917, qua thực tiễn và những bổ sung mới cho đến nay chúng ta có thể định nghĩa:” Công nghệ sinh học là các quá trình sản xuất ở quy mô công nghiệp có sự tham gia của các tác nhân sinh học( ở mức độ cơ thể, tế bào hoặc dưới tế bào) dựa trên các thành tựu tổng hợp của nhiều bộ môn khoa học, phục vụ cho việc tăng của cải vật chất của xã hội và bảo vệ lợi ích của con người” ( Nguyễn Quang Thạch và cs, 2005)
 
2. Các giai đoạn phát triển công nghệ sinh học
- CNSH truyền thống: chế biến các thực phẩm dân dã đã có từ lâu đời như rượu, tương, chao, nước mắm ... theo phương pháp truyền thống; chọn giống truyền thống; xử lí đất đai, phân bón để phục vụ Nông nghiệp…
- CNSH cận đại: có sử dụng công nghệ trong quá trình chế biến sản phẩm như việc sử dụng các nồi lên men công nghiệp để sản xuất ở quy mô lớn các sản phẩm sinh hạt như mì chính, acid amin, acid hữu cơ, chất kháng sinh, vitamin, enzyme ...
- Công nghệ sinh học hiện đại: công nghệ di truyền, công nghệ tế bào, công nghệ enzyme và protein, công nghệ vi sinh vật, công nghệ lên men, công nghệ môi trường …
3. Phát triển công nghệ sinh học của Bình Phước đang ở giai đoạn nào?
            Theo định nghĩa công nghệ sinh học ngày nay, thì công nghệ sinh học đều được ứng dụng trên các lĩnh vực đời sống của chúng ta như: Nông nghiệp, y tế, môi trường, năng lượng, vật liêu, thực phẩm, hóa học….Trong khuôn khổ cho phép bài viết chỉ đề cập chủ yếu đến công nghệ sinh học trong nông nghiệp của tỉnh nhà.
            Thực tế cho thấy các nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp ở Bình Phước chủ yếu đang ở mức vĩ mô như đánh giá, khảo sát, đều tra, tổng hợp, và áp dụng các kinh nghiệm là chủ yếu. Một số công trình có sự liên kết với các Viện, Trường, Trung tâm đã có những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên nhìn chung tổng thể thì công nghệ sinh học nông nghiệp Bình Phước đang phát triển chủ yếu ở giai đoạn “ công nghệ sinh học truyền thống  và giai đoạn cận đại“. Điều này cho thấy chúng ta đang giữ một khoảng cách xa với các tỉnh, vùng khác trong nước và còn rất xa so với yêu cầu phát triển, ứng dụng công nghệ sinh học trên thế giới hiện nay.
4. Nguyên nhân, hạn chế và hướng khắc phục
            Có nhiều hạn chế tuy nhiên một trong những vấn đề cốt lõ là: Trang thiết bị kỷ thuật thiếu thốn. Nguồn nhân lực có chuyên môn lĩnh vực công nghệ sinh học còn hạn chế cả về số lượng lẫn chất lương. Nông dân chủ yếu là đồng bào thiểu số vùng sâu vùng xa nên việc phổ biến các ứng dụng khoa học kỷ thuật còn nhiều hạn chế, tốn nhiều thời gian.
            Để tạo điều kiện cho ngành nông nghiệp tỉnh nhà tiến tới giai đoạn hiện đại, cần phải có đội ngũ cán bộ có chuyên môn vững, thiết thực; phải có các phòng, trung tâm nghiên cứu được thiết kế theo yêu cầu và có đầy đủ các trang thiết bị hóa chất căn bản của một phòng thí nghiệm: máy li tâm, tủ sấy, buồng cấy, tủ định ôn, dụng cụ khử trụng, máy đo quang phổ, máy lắc, các test thử, máy PCR…; hệ thống nhà lưới chất lượng phù hợp quy mô sản xuất.
            Các chính sách khuyến khích hỗ trợ của tỉnh là đòn bẩy tích cực để nền khoa học tỉnh nhà nhanh chóng vươn lên. Mối liên kết giữa nhà nước- nhà nghiên cứu- nhà đầu tư- và nhà nông mang tính quyết định đến kết quả và chất lượng của các nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học.
            Quy trình liên kết logic giữ phòng thí nghiệm- nhà kính, nhà lưới- và môi trường sản xuất thể hiện năng lực của nhà nghiên cứu và chất lượng của chương trình.
5. Một số lĩnh vực có thể đầu tư ứng dụng và phát triển
           Là tỉnh có nền nông nghiệp chiếm đa số nên có nhiều lĩnh vực có tiềm năng  cho nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học, trong đó những lĩnh vực cần thiết là:
           Chọn giống cây trồng cho năng suất chất lượng, giống kháng sâu, bệnh, chịu hạn: Đây là nhiệm vụ chính cho ngành nông nghiệp, trong đó Bình Phước đặc trưng bởi những cây công nghiệp dài ngày và nổi tiếng như hồ tiêu, điều, cao su, ca cao. Hiện nay các nghiên cứu chọn tạo giống cây này tập trung chủ yếu ở một số viện nghiên cứu. Nếu chúng ta ứng dụng các kỷ thuật công nghệ sinh học vào chọn tạo giống sẽ rút ngắn được thời gian từ đó hạn chế được sự phụ thuộc vào các Viện nghiên cứu, hạn chế được khả năng không thích ứng điều kiện sản suất của giống cây trồng.
             Các nghiên cứu phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng, bệnh trong thú y, thủy sản: Hiện tại các nghiên cứu, phát hiện bệnh trên địa bàn tỉnh chủ yếu dựa vào đánh giá trực quan, so sánh, phương pháp này chỉ có hiệu quả với một số bệnh có triệu chứng điển hình và cũng gặp nhiều yếu tố sai sót khách quan khi dánh giá. Nên khi kết hợp giữa phòng thí nghiệm phân tích, người nghiên cứu sẽ cho những kết quả khả quan và đưa ra được các quy trình phòng trừ dựa trên nhưng phân tích có cơ sở khoa học triệt để nhất. Các bộ kit, test chẩn đoán nhanh một số sâu bệnh cây trồng và bệnh trong thú y, thủy sản cũng là yếu tố đem lại hiệu quả cao.
           Phát triển ngành vi sinh vật: Vi sinh vật là ngành được ứng dụng phổ biến trên hầu hết các lĩnh vực đời sống. Trong nông nghiệp thì các chế phẩm vi sinh vật có tác dụng rất lớn đến cây trồng; các quy trình bảo quản chế biến, xử lý phế phẩm, rác thải và quy trình lên men hữu ích khác luôn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Việc phân lập vi khuẩn có thể phát hiện được một số loại bệnh gây hại cho ngành thủy sản, chăn nuôi thú y. Do đó khi đã chuẩn bị được đầy đủ các trang thiết bị và nhân lực cần thiết thì việc nghiên cứu ứng dụng các quá trình vi sinh vật là điều hết sức thiết thực.
           Nuôi cấy mô: Nuôi cây mô tế bào thực vật hiện nay đã cho thấy là lĩnh vực thành công và mang lại kết quả thuyết phục. Phương pháp nhân giống invitro trên một số đối tượng cây trồng cho phép tạo ra cây giống sạch bệnh với số lượng lớn, rút ngắn thời gian từ đó mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên cần phải có đội ngũ nhân lực thật sự chuyên nghiệp và hệ thống phòng cấy nhà lưới đảm bảo yêu cầu.
           Công nghệ gene: Là công nghệ chìa khóa của công nghệ sinh học hiện đại, do đó để ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại vào nông nghiệp thì lĩnh vực công nghệ gene là không thể thiếu. Đây là lĩnh vực cần được đầu tư chất xám đặc biệt và trang thiết bị hiện đại. Trong đó khả năng hiểu biết về sinh học phân tử và trang thiết bị chuyên ngành là yếu tố quyết định. Ngược lại khi những sản phẩm được tạo ra từ lĩnh vững này sẽ có cơ sở khoa học vững chắc, sức thuyết phục tối đa. Phát triển được lĩnh công nghệ gene là đã thể hiện sự tiến bộ thực sự về chất của công nghệ sinh học.
           Xử lý chất thải trong sản xuất nông nghiệp: Các rác thải trong sản xuất nông nghiệp nếu được xử ly đúng tiêu chuẩn thì sản phẩm sẽ là nguồn hidrocacbon hữu ích cho cây trồng. Đây là lĩnh vực có sự kết hợp giữa ngành vi sinh và nhà sản xuất. Do đó khi ngành vi sinh phát triển, kết hợp một số biện pháp cơ-lý-hóa thì việc xử lý rác chỉ còn là vấn đề thời gian.
           Bảo tồn, định danh các loài sinh vật mới: Bình Phước là tỉnh biên giới có nhiều loài sinh vật quý hiếm và mới, do đó cần được khảo sát, điều tra thu thập để bảo tồn lưu trữ. Kết hợp với các lĩnh vực như phân loại học, nuôi cấy, công nghệ gene… để định danh các loài mới.
           Qua một số hướng phát triển trên ta dễ nhận thấy nuôi cấy mô invitro, vi sinh vật, và công nghệ gene là ba lĩnh vững then chốt trong công nghệ sinh học cận đại và hiện đại. Trang thiết bị kỷ thuật phòng nghiên cứu, hệ thống nhà lưới, đội ngũ cán bộ có năng lực thật sự, cùng các chính sách phát triển khoa học của tỉnh nhà sẽ là yếu tố quyết định xu thế và tốc độ đáp ứng yêu cầu khoa học công nghệ nói chung và công nghệ sinh học nói riêng cho sự phát triển nền nông nghiệp Bình Phước.

Tác giả bài viết: Nguyễn Chính Việt - TTGNLN

Nguồn tin: TTGNLN

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thông báo

  • Kết luận thanh tra điểu kiện sản xuất kinh doanh giống thủy sản và nuôi trồng khai thác nguồn lợi thủy sản

    tải về

    view : 12 | down : 7
  • Kết luận thanh tra an toàn vệ sinh thực phẩm nông lâm sản và thủy sản đợt II/2020

    tải về

    view : 20 | down : 9
  • Thông báo tạm giữ tang vật vi phạm hành chính trong lĩnh vực khai thác thủy sản

    tải về

    view : 15 | down : 8
  • Thông báo bản tiếp nhận công bố sản phẩm trong tháng 8/2020 (lĩnh vực quản lý chất lượng NLS&TS)

    tải về

    view : 19 | down : 6
  • Quyết định công bố hệ thống tiêu chuẩn quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 áp dụng trong hoạt động của Sở Nông nghiệp và PTNT

    tải về

    view : 24 | down : 4
  • Thông báo lịch trực cơ quan Nghỉ lễ quốc khánh mùng 2.9 năm 2020

    tải về

    view : 25 | down : 16
  • Tiếp nhận hồ sơ công bố hợp quy (lĩnh vực TT & BVTV) tháng 6/2020 (2)

    tải về

    view : 25 | down : 9
  • Thông báo tiếp nhận hồ sơ công bố hợp quy (lĩnh vực TT&BVTV) tháng 6/2020 (1)

    tải về

    view : 28 | down : 10
  • Tuyên truyền: Các tác phẩm báo chí viết về công tác giảm nghèo; phổ biến cài đặt ứng dụng Bluezone; tổng đài bảo vệ trẻ em quốc gia -111; phòng chống buôn bán động vật hoang dã

    tải về

    view : 28 | down : 16
  • Thông báo bản tiếp nhận công bố sản phẩm trong tháng 7/2020

    tải về

    view : 35 | down : 16

Quan tâm nhiều


....